Ở Việt Nam, khái niệm chính sách tài khóa xanh như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng thân thiện với môi trường thông qua chính sách tài khóa (thuế, phí).

Theo TS. Lê Thị Thùy Vân, Ban Quản lý khoa học và Quan hệ Quốc tế, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính (Bộ Tài chính), trên thế giới đã có nhiều quốc gia sử dụng công cụ tài khóa xanh, liên quan đến chính sách thuế xanh và các loại thuế về môi trường để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Cụ thể như: Phần Lan là nước đầu tiên áp dụng thuế đánh vào phát thải CO2 đối với nhiên liệu kể từ năm 1990, Na Uy áp dụng thuế các-bon trong lĩnh vực dầu khoáng sản vào năm 1991; Đan Mạch áp dụng thuế các-bon vào nhiên liệu năm 1992; Na Uy, Phần Lan quy định các mức thuế suất khác nhau nhằm khuyến khích việc tái sử dụng và tái chế lại nguyên liệu đóng gói.

Ở Việt Nam, chính sách tài khóa xanh lồng ghép trong kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020, được giao cho Bộ Tài chính chủ trì 2/66 hành động, bao gồm: Hình thành khung chính sách tài chính tăng trưởng, chi tiêu công theo tiêu chuẩn xanh.

Các công cụ thuế thu trong kế hoạch tăng trưởng xanh

Thuế bảo vệ môi trường

Luật thuế bảo vệ môi trường 2010 (có hiệu lực từ 2012): Đây là một sắc thái thuế mới ở Việt Nam, thu vào hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi bao gồm: Thuế bảo vệ môi trường; Thuế tài nguyên; Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế giá trị gia tăng; Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.trường, với mục đích là nhằm hạn chế sản xuất, tiêu dùng các hàng hóa khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường, khuyến khích sản xuất và sử dụng hàng hóa thân thiện với môi trường, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội; khuyến khích phát triển kinh tế đi liền với giảm ô nhiễm môi trường.

Các đối tượng bị đánh thuế: Xăng, dầu, mỡ nhờn; Than đá; Dung dịch hydro-chloro-fluoro-cacbon (HCFC); Túi ni lông; Thuốc diệt cỏ; Thuốc trừ mối; Thuốc bảo quản lâm sản; Thuốc khử trùng kho.

Cụ thể, theo Nghị quyết số 888a/2015/UBTVQH13 ngày 10/3/2015 thì áp dụng mức thuế từ 300 đồng đến 3000 đồng/lít (1000đ/lít từ 1/2019) đối với dầu hỏa và dầu các loại, xăng, nhiên liệu bay; Mức 10.000 đồng/tấn đối với than đá, than nâu, than mỡ; Mức 40.000 đồng/kg đối với túi ni lông.

Thuế tài nguyên

Luật thuế tài nguyên quy định đối tượng chịu thuế tài nguyên gồm 8 nhóm (Khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí thiên nhiên khí than, sản phẩm của rừng tự nhiên, hải sản tự nhiên, nước thiên nhiên, yến sào thiên nhiên, tài nguyên khác).

Thuế tài nguyên ở mức 10-20% đối với nhóm khoáng sản kim loại (Niken, nhôm, sắt, đồng, titan, wolfra…); Mức 6-27% đối với nhóm khoáng sản không kim loại (Apatit, đá, sỏi, than, cát, kim cương…); Mức 1-10% đối với nhóm nước thiên nhiên (nước sạch, dùng sản xuất thủy điện, nước khoáng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai…).

Các công cụ tài khóa hỗ trợ tăng trưởng xanh và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam

TS. Lê Thị Thùy Vân (trái) trong buổi tập huấn  cho các nhà báo về Tăng cường nhận thức về giá trị của Cải cách tài khóa xanh’ hôm 25/10.

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

Luật thuế TNDN2008, sửa đổi 2013, 2014: Là loại thuế thu nhập từ thực hiện xã hội hóa và thực hiện các dự án đầu tư mới trong lĩnh vực môi trường sẽ được áp dụng các ưu đãi như mức thuế suất thấp hơn, miễn, giảm thuế (so với mức phổ thông 20%)…

Áp dụng thuế suất 10% đối với thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường; thu nhập của doanh nghiệp từ: Trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.

Áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm đối với thu nhập của doanh nghiệp, miễn thuế tối đa 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa 9 năm tiếp theo đối với dự án đầu tư mới, ứng dụng công nghệ cao (theo Luật Công nghệ cao); sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; phát triển công nghệ sinh học; bảo vệ môi trường.

Áp dụng thuế suất 17% trong 10 năm kể từ 1/1/2015, miễn thuế TNDN 12 năm, giảm 50% số thuế TNN phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm tiếp kiệm năng lượng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Quy định ưu đãi để khuyến khích sử dụng mặt hàng xăng sinh học, xe ô tô thân thiện với môi trường góp phần hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

Cụ thể: Mặt hàng xăng sinh học xăng E5, E10 được áp thuế suất thấp hơn xăng RON 92; Thuế suất đối với xe ô tô chạy bằng điện dưới 24 chỗ ngồi được giảm mức thuế suất so với quy định trước đó; Thuế suất đối với xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học, xa ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng lượng sinh học (trong đó tỷ trọng xăng sử dụng không quá 70% số năng lượng sử dụng) được áp dụng thuế suất thuế TTĐB thấp hơn so với các xe cùng loại.

Thuế giá trị gia tăng

Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế TTĐB và Luật quản lý thuế nêu rõ, sản phẩm sản xuất là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu để đảm bảo an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh được miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển cộng nghệ trong nước chưa tạo ra được, tài liệu, sách báo khoa học…

Khung thuế xuất khẩu tối thiểu đối với mặt hàng là tài nguyên khoáng sản để hạn chế xuất khẩu, mức thuế xuất khẩu đối với tài nguyên khoáng sản cũng xây dựng theo nguyên tắc giảm dần từ nguyên liệu thô đến chế biến sâu.

Các công cụ thuế chi quan trọng trong kế hoạch tăng trưởng xanh

Chi tiêu cho sự nghiệp môi trường

Theo Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2014 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cụ thể là hàng năm, ngân sách nhà nước bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường không thấp hơn 1% tổng chi cân đối của ngân sách nhà nước trong dự toán ngân sách. Tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2013-2018 đạt 72.422 tỷ đồng (NSTW: 10.002 tỷ đồng, NSĐP: 62.420 tỷ đồng).

Các chương trình mục tiêu quốc gia

Chính phủ đã sử dụng các nguồn vốn ngân sách trung ương, địa phương và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODDA) đầu tư cho các chương trình, dự án liên quan đến lĩnh vực tăng trưởng xanh.

Cụ thể: Chương trình Mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đonạ 2012-2015, theo Quyết định số 142/QĐ-TTg, ngày 2/10/2012 (tổng vốn đầu tư 930 tỷ đồng).

Ngoài ra, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đọan 2011-2020, ngày 9/1/2012, Quyết định số 57/QĐ-TTg (49.317 tỷ đồng).

Đồng thời chi cho Chương trình Mục tiêu Quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2011-2015, Quyết định số 1206/QĐ-TTg, ngày 2/9/2012 (5.863 tỷ đồng).

Chính phủ còn sử dụng nguồn ngân sách chi cho Chương trình Mục tiêu Quốc gia về biến đổi khí hậu, Quyết định số 1183/QĐ-TTg, ngày 30/8/2012 (1.771 tỷ đồng).

Tăng trưởng xanh mang lại hiệu quả phát triển bền vững

Chính sách thuế tài nguyên đã trở thành công cụ quan trọng trong cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên; góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên đối với phát triển kinh tế bền vững.

Chính sách thuế bảo vệ môi trường đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội và tạo nguồn thu để giải quyết vấn đề về môi trường.

Các chính sách thuế TNDN, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp từng bước được hoàn thiện theo hướng chú trọng khuyến khích đầu tư, sản xuất theo công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và hỗ trợ cho việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia.

Chính sách chi NSNN được chú trọng theo hướng ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến bảo vệ môi trường gồm: Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH; Chương trình MTQG tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả; Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Tuy nhiên, theo TS. Lê thị Thùy Vân, bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều thách thức như: Tăng trưởng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, trong khi việc phân bổ và sử dụng tài nguyên chưa được hiệu quả, phát sinh nhiều chất thải. Năng lượng có nguồn gốc hóa thạch (điển hình là than) vẫn được sử dụng đa số gây ô nhiễm môi trường.

Chính sách thuế bảo vệ môi trường còn hạn chế cả về phạm vi và mức thu, chưa tạo được sự thay đổi mạnh mẽ trong việc nhận thức, hành vi của doanh nghiệp, người dân trong quá trình sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm gây nguy hại đối với môi trường.

Việc chi NSNN của một số đơn vị sử dụng ngân sách còn dàn trỉ, thiếu hiệu quả, sử dụng chưa đúng mục đích như phân bổ cho sự nghiệp môi trường cho các nhiệm vụ điều tra, khảo sát nhưng thiếu gắn kết với các dự án cụ thể; hay chưa chú trọng phân bổ kinh phí cho công tác hoàn thiện hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành về bảo vệ môi trường…

Công tác xã hội hóa cho đầu tư bảo vệ môi trường còn chậm, ngân sách nhà nước vẫn là nguồn kinh phí chủ yếu, trong khi đó, một số địa phương không thuộc diện khó khăn về ngân sách vẫn đề xuất kiến nghị với trung ương để bổ sung cho mục tiêu xử lý ô nhiễm môi trường.

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tăng trưởng xanh

Để nâng cao hiệu quả tăng trưởng xanh, T.S Lê thị Thùy Vân đề xuất một số giải pháp như tiếp tục lồng ghép các giải pháp, chính sách về tài chính xanh, thúc đẩy bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình xây dựng các Chiến lược, Kế hoạch phát triển trung và dài hạn của ngành Tài chính thời gian tới đây.

Đồng thời tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách thuế liên quan đến bảo vệ môi trường, để có tác động tốt hơn đến nhận thức, hành vi của doanh nghiệp, người dân trong quá trình sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm gây nguy hại đối với môi trường.

Thực hiện có hiệu quả quá trình tái cơ cấu kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng theo các Nghị quyết của Trung ương và Quốc hộ theo hướng khuyến khách đổi mới, cải tiến, nâng cấp công nghệ, đa dạng hóa ngành nghề, phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và tiêu hao năng lượng thấp.

TS. Vân cũng kiến nghị đa đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước thông qua các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, huy động nguồn lực tài chính thông qua các định chế tài chính hệ thống các ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán (lưu thông thị trường carbon, trái phiếu xanh…). Tăng cường hợp tác công tư nhằm hỗ trợ tốt hơn cho tăng trưởng xanh.

Trả lời