Giờ đây, CSR – trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với những tác động của họ đối với xã hội là cụm từ không còn xa lạ với các doanh nghiệp xếp vào hàng thịnh vượng ở Việt Nam. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp đã biết vận dụng nó vào phát triển bền vững trong kinh doanh như Nestle, Coca Cola, Bitis…

Phát triển bền vững đang trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của nền kinh tế thế giới. Với Việt Nam, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt đến năm 2030, cần đảm bảo cân bằng, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường với phát triển xã hội. Đây là trách nhiệm chung cần có sự phối hợp đồng bộ và nỗ lực hơn nữa từ các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp.

Các công ty này đã chuyển từ những mô hình thuần túy lợi nhuận (purely profit-making organization) thành những công ty công dân hướng về CSR (CSR-oriented corporate citizen). Có công ty đã xây dựng thành công mô hình CSR với ba nền tảng chiến lược chính yếu.

Đó là bền vững về nhân văn (Human Sustainability) – Sản phẩm vì sức khỏe con người, Bền vững về môi trường (Environment Sustainability) – Sản phẩm thân thiện môi trường, và Bền vững về tài năng (Talent Sustainability) – Chú trọng con người và đào tạo đội ngũ kế thừa. Tại công ty này, với đội ngũ lãnh đạo, bên cạnh những chỉ tiêu đánh giá thành tích về kinh doanh, các chỉ tiêu thành tích về CSR được thực hiện một cách nghiêm túc và gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của cá nhân và doanh nghiệp.

Những ưu tiên trong chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp thịnh vượng (Đơn vị: %). Nguồn: Khảo sát doanh nghiệp BP500 do Vietnam Report thực hiện tháng 02/2018.

Nestlé và cam kết phát triển bền vững 

Đối với Nestlé, tăng trưởng bền vững là ưu tiên hàng đầu, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới, bao gồm cả Khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong hơn 150 năm hoạt động nhằm mục đích “Nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần vào một tương lai khỏe mạnh hơn”, Nestlé đã luôn và sẽ tiếp tục thực hiện cam kết của mình trong việc tạo ra ảnh hưởng vào các lãnh vực: Cá nhân và Gia Đình; Cộng Đồng và Hành tinh.

Đối với cá nhân và gia đình

Dựa trên những tiêu chí dinh dưỡng cho từng ngành hàng và độ tuổi sử dụng Nestlé cho ra đời những dòng sản phẩm không chỉ ngon hơn mà còn tốt hơn cho sức khỏe: Nestlé luôn tiên phong trong việc giảm muối, giảm đường, bổ sung vi chất, chất xơ…

Đối với cộng đồng

Nestlé giúp phát triển các cộng đồng thịnh vượng, vững mạnh, nâng cao đời sống nông thôn, và mang lại thu nhập bền vững.

 

Cụ thể, dự án phát triển cà phê bền vững – NESCAFÉ Plan được triển khai tại Việt Nam từ năm 2011. Cho tới nay, dự án đã góp phần cải tạo 20.000 ha diện tích cà phê già cỗi, góp phần giữ vững vị trí số 1 của Việt Nam về sản xuất cà phê Robusta trên bản đồ cà phê thế giới.

Với dự án này, Nestlé đã tích cực nâng cao đời sống của nông dân trồng cà phê của Việt Nam, góp phần tăng thu nhập tới trên 30% cho họ, thông qua các hoat động tập huấn và đào tạo cho hơn 200.000 hộ nông dân, cung cấp hơn 20 triệu cây giống kháng bệnh cho năng suất cao, giúp cho 21.000 nông hộ đạt chứng chỉ cà phê quốc tế 4C, nâng cao vai trò và vị thế của nữ nông dân tham gia dự án.

Một hoạt động khác của Nestlé vì sự phát triển cộng đồng là dự án “Năng động Việt Nam” do Nestlé Việt Nam, Tổng cục Thể dục Thể thao phối hợp thực hiện. Chương trình “Năng động Việt Nam” nằm trong Đề Án quốc gia 641, đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc của người Việt Nam giai đoạn 2011  -2020 của chính phủ. Chương trình bao gồm việc hỗ trợ các trang thiết bị thể thao cho các trường học và kết nối các hoạt động thể thao học đường trước đó như Hội Khỏe Phù Đổng toàn quốc, giải bóng rổ… giúp các em nhỏ có thêm cơ hội để luyện tập thể thao nhiều hơn nữa.

Đối với hành tinh

Nestlé triển khai các hoạt động nhằm quản lý tài nguyên cho các thế hệ tương lai, quan tâm đến nguồn nước, hành động vì biến đổi khí hậu, và bảo vệ môi trường.

Chẳng hạn, vì một môi trường bền vững, trong canh tác cà phê, kỹ thuật của Nestlé Plan đã góp phần tiết kiệm 40% lượng nước tưới, giảm 20% lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.

Trong sản xuất nhà máy Nestlé Trị An với công nghệ hiện đại đã đi tiên phong trong việc sử dụng nhiên liệu sinh khối, giảm 7% năng lượng sử dụng, giảm 96% lượng chất thải phát sinh và 22% lượng khí nhà kính trong sản xuất mỗi năm.  Ngoài ra, nguồn nguyên liệu tái chế trong quá trình sản xuất Nestlé còn được sử dụng để sản xuất gạch trong xây dựng, hướng tới không có chất thải ra môi trường.

Đẩy mạnh hợp tác vì phát triển bền vững

Trong vòng 22 năm qua, tổng vốn đầu tư của công ty vào thị trường Việt Nam đã tăng liên tục từ 21 triệu USD trong năm 1995 lên 520 triệu USD hiện nay. Đối với Nestlé, việc tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng nóng trong thời gian ngắn không phải là điều mà công ty nhắm đến, mà chính là sự tăng trưởng bền vững trong thời gian dài.

Coca-Cola và câu chuyện trách nhiệm với môi trường

Tăng cường đầu tư cho sản xuất kinh doanh gắn liền với tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường là nguyên tắc được Coca-Cola đặt ra khi mở rộng hạ tầng tại Việt Nam.

Tăng trưởng hoạt động kinh doanh, không tăng lượng carbon

Câu chuyện về chiến lược phát triển bền vững gắn liền với môi trường của Coca-Cola Việt Nam được viết từ những năm đầu thành lập và đẩy mạnh thêm khi tập đoàn này cam kết tăng vốn thêm 300 triệu USD vào mảnh đất hình chữ S. Với nguồn tiền này, Coca-Cola Việt Nam đã đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng và hệ thống dây chuyền sản xuất mới cho ba nhà máy tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM.

“Những dây chuyền này không chỉ tân tiến mà còn thân thiện môi trường nhất, giúp chúng tôi tiết kiệm 10% lượng tiêu thụ điện, 15% lượng hơi nước và 20% lượng nước tiêu thụ” – ông Irial Finan, Phó Chủ tịch điều hành Tập đoàn Coca-Cola đã phát biểu vào thời điểm đó.

 

Khi áp dụng công nghệ Màng lọc sinh học mới MBR (Membrane Bio Reactor), Coca-Cola Việt Nam tính toán cho việc tăng hiệu quả xử lý và nâng cao chất lượng nước thải khi trả chúng về tự nhiên. Thậm chí, nguồn nước này đang được tái sử dụng để tưới tiêu, trồng cây, nuôi cá… tại các nhà máy.

Khi triển khai các dự án với công nghệ được cải tiến, Coca-Cola Việt Nam hướng đến việc giảm lượng nước ngầm khai thác hàng năm cho sản xuất. Các cải tiến này giúp cả ba nhà máy tiết kiệm từ 3% đến hơn 5% lương nước sử dụng. Riêng tại nhà máy Thủ Đức (TP HCM), lượng nước cần để sản xuất ra một lít nước giải khát đã giảm 6%, đáng kể đối với doanh nghiệp kinh doanh 100% sản phẩm có nước là thành phần chủ yếu.

Ngay cả việc dùng nguyên liệu sạch CNG (khí nén tự nhiên) và nguyên liệu Biomass (nguyên liệu tái tạo) để thay thế dầu nhiên liệu FO cũng là một bước đi thể hiện quyết tâm của Coca-Cola Việt Nam trong việc thực hiện cam kết “tăng trưởng hoạt động kinh doanh, không phải tăng lượng carbon”. Công ty này thậm chí còn chú ý đến từng chi tiết nhỏ như các xe nâng và phương tiện vận chuyển hạn chế vận chuyển giờ cao điểm, bảo dưỡng xe và bảo đảm thông số khói thải theo yêu cầu ở mức cao.

Coca-Cola là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường tại Việt Nam.

Đặt điều kiện sinh sống của người dân lên hàng đầu

Nếu có dịp dạo quanh những cung đường yên bình, xanh mát cỏ cây dẫn vào các nhà máy Coca-Cola, hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết nơi này đang sở hữu những “cỗ máy” có công suất cao nhất nhì khu vực. Giảm thiểu mùi hôi, hạn chế tiếng ồn – đó là cách doanh nghiệp đang làm để tạo nên một môi trường đáng sống cho cư dân lân cận nhà máy. 

Rác thải được thu gom vào các thùng chứa quy định để tránh mùi hôi và nước rỉ rác. Ngoài ra, Coca-Cola còn dành các kho có diện tích lớn để lưu trữ chất thải nguy hiểm và xử lý định kỳ hàng tháng.

Những nỗ lực trong tiết kiệm năng lượng và nước, giảm tiếng ồn, nước thải, khí thải… đã giúp Coca-Cola đạt chứng nhận LEED (Leadership in Energy and Environmental Design) cho nhà máy tại TP HCM. 2 nhà máy Coca-Cola tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng đang được đầu tư nâng cấp để hướng đến tiêu chuẩn nói trên.

Góp phần làm cho cuộc sống người dân tốt đẹp hơn cũng là một phần trong câu chuyện phát triển bền vững của Coca-Cola Việt Nam. Mới đây, người dân Thủ Đức (TP HCM) đã được uống nước sạch từ hệ thống lọc nước hiện đại, vận hành bằng năng lượng mặt trời tại EKOCENTER. Mô hình này được Coca-Cola xây dựng như một “Trung tâm hỗ trợ cộng đồng”, nơi người dân địa phương có thể tiếp cận nước uống tinh khiết, năng lượng mặt trời, internet không dây để tận hưởng cuộc sống.

Ngoài ra, hơn 50.000 người dân trên 7 tỉnh thành trong cả nước cũng đã có nguồn nước sạch để sử dụng hàng ngày nhờ chương trình “Nước sạch cho cộng đồng” do Coca-Cola phối hợp cùng chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ thực hiện trong suốt 10 năm qua. Bên cạnh đó, hình ảnh một Tràm Chim đầy sức sống thông qua dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” mà Coca-Cola theo đuổi 8 năm nay cũng là điểm sáng giúp công ty ngày ghi điểm trong mắt người Việt.

CSR-vũ khí mới của Bitis

Dẫn chứng về một câu chuyện cách đây gần 20 năm khi Công ty giày Bình Tiên (Biti’s) bắt đầu nhận được yêu cầu từ các khách hàng lớn ở châu Âu và châu Mỹ đòi kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại doanh nghiệp, nguyên Giám đốc xuất khẩu của công ty, ông Nguyễn Văn Toàn cho biết yêu cầu mới này đã đem lại rất nhiều lợi ích cho công ty. Theo ông Toàn, sau những khó chịu ban đầu vì khách hàng đòi xem bảng lương, phỏng vấn công nhân, kiểm tra bếp ăn tập thể, lãnh đạo công ty đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các yêu cầu này. Biti’s đã tìm được nhiều khách hàng lớn bởi “việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội là phương thức quảng cáo tốt nhất với các đối tác,” ông Toàn cho hay.

 

Trách nhiệm xã hội (corporate social responsibility – CSR) của doanh nghiệp được hiểu là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử đạo đức và đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung, cùng với việc nâng cao chất lượng sống của người lao động, gia đình họ và của cộng đồng. 

Khảo sát do Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành có sử dụng nhiều lao động là dệt may và da giầy cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình CSR, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%/năm, năng suất lao động và tỷ lệ hàng xuất khẩu cũng tăng đáng kể. Ngoài hiệu quả kinh tế trực tiếp, doanh nghiệp còn hưởng lợi từ việc tạo dựng được hình ảnh với khách hàng, có được sự gắn bó và hài lòng của người lao động, thu hút được lao động có chuyên môn cao – những mấu chốt của sự thành công lâu dài. 

Đặc biệt, bắt đầu từ năm 2005, các doanh nghiệp đã tích cực hưởng ứng “Giải thưởng trách nhiệm doanh nghiệp” thường niên do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Da giày và Hiệp hội Dệt may tổ chức. Đến nay, đã có trên 60 doanh nghiệp da giày và dệt may được nhận giải thưởng này vì đã áp dụng những sáng kiến về trách nhiệm xã hội đem lại quyền lợi tốt hơn cho người lao động, cộng đồng, xã hội và môi truờng. 

Tuy vậy, CSR hiện mới chỉ được triển khai áp dụng chủ yếu ở các doanh nghiệp xuất khẩu hàng sang các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật. Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Khoa học và Lao động Xã hội, cần phải xây dựng một lộ trình rõ ràng về thực hiện CSR cho các doanh nghiệp Việt Nam phù hợp với sự phát triển nền kinh tế và quá trình hội nhập. Giám đốc phát triển dự án của Công ty tư vấn Global Standards, ông Carey Zesiger cho rằng sức cạnh tranh của Việt Nam trong một số ngành công nghiệp trọng điểm sẽ được nâng lên rất nhiều nếu “thực hiện nghiêm túc các vấn đề liên quan đến CSR”.