Giá lợn hơi trong nước hiện đang thuộc nhóm cao trong khu vực

Tại Việt Nam, nguồn cung thịt heo đến chủ yếu từ các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Các hộ này thường thiếu thông tin thị trường và khả năng dự báo để thay đổi kế hoạch sản xuất. Với số lượng vốn ít, chi phí chăn nuôi cao, thiếu hợp đồng bao tiêu và không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm và nguồn gốc xuất xứ, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khó kết nối được với các kênh lớn như các doanh nghiệp chế biến, giết mổ tập trung và các siêu thị, nhà xuất khẩu để vượt qua khủng hoảng. Khi gặp những cú sốc cung – cầu thì cũng chính họ là những người chịu ảnh hưởng lớn nhất.

Có thể thấy, nguyên nhân chính của việc giá thịt heo thăng giáng trong hai năm qua là do những cú sốc về cầu (năm 2017) và cung (2018). Ở một thị trường cạnh tranh và vận hành tốt, nhà sản xuất thịt heo có thể tự điều chỉnh sản xuất để thích nghi với những thay đổi cung cầu, qua đó làm giảm bớt mức độ của những biến động giá cả. Ngược lại, ở các thị trường không vận hành tốt, thông tin bất đối xứng hoặc thiếu cạnh tranh, nhà sản xuất khó có thể điều chỉnh kế hoạch sản xuất của mình. Điều này làm thị trường trở nên kém linh hoạt, các biến động giá cả càng gay gắt hơn.

Ngược lại, các doanh nghiệp chăn nuôi lớn là những người chịu ít thiệt hại nhất trong cuộc khủng hoảng và được hưởng lợi nhiều nhất khi nhu cầu của thị trường tăng trở lại. Nhờ đầu tư vốn lớn, công nghệ sản xuất hiện đại, chi phí nuôi heo ở các doanh nghiệp này thường thấp hơn các hộ gia đình. Thêm vào đó, với việc đảm bảo nguồn gốc xuất xứ và an toàn thực phẩm, sản phẩm của họ có thể được bao tiêu bởi các cơ sở tiêu thụ lớn và tiếp cận với các thị trường xuất khẩu.

Các doanh nghiệp lớn cũng có khả năng dự báo thị trường tốt hơn để đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn. Với những ưu thế trên, các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn có thể cầm cự trong khủng hoảng và khi thị trường khởi sắc trở lại là lúc các doanh nghiệp này chiếm ưu thế để gặt hái lợi nhuận.

Giá cả thịt heo cũng bị tăng thêm nhiều vì các chi phí trung gian do nhiều quy định, điều kiện kinh doanh chưa thông thoáng. Hiện nay, thủ tục xin cấp phép đầu tư cho vùng chăn nuôi và giết mổ heo tập trung vẫn phải tuân thủ qua tám bước, với nhiều điều kiện kinh doanh cứng nhắc. Theo Nghị định số 66/2016/NĐ-CP, doanh nghiệp cần phải nuôi heo trên 300 con nái sinh sản hoặc trên 500 con gồm heo nái và heo nuôi lấy thịt hoặc trên 1.000 con nuôi lấy thịt mới đủ điều kiện chăn nuôi kinh doanh tập trung. Hạn chế này dẫn tới việc chỉ những doanh nghiệp có vốn lớn mới được phép làm kinh doanh, khiến mức độ cạnh tranh của thị trường giảm.

Về giá lợn hơi trong nước hiện đang thuộc nhóm cao trong khu vực và hoàn toàn do thị trường trong nước, người chăn nuôi chi phối. Đặc biệt, giá lợn hơi hiện tăng cao hơn ở các khu vực nông thôn, chợ cóc khu vực giết mổ nhỏ lẻ. Nguyên nhân là do thợ mổ ở khu vực này không có điệu kiện tiếp cận được những cơ sở chăn nuôi trong trại, doanh nghiệp nguồn cung chính mặt hàng lợn thịt hiện nay, thế nên càng làm cho giá lợn thịt cục bộ ở nhiều nơi tăng cao, gây lan toả tâm lý thị trường đang thiếu nguồn cung lợn thịt và kéo giá thịt lợn cả nước lên cao.

Cần cải thiện thông tin thị trường, gỡ bỏ rào cản cho doanh nghiệp thay vì can thiệp hành chính

Trong thời kỳ giá thịt heo leo thang như hiện nay, nếu nhà quản lý buộc các doanh nghiệp phải giảm giá bằng mệnh lệnh hành chính thì vừa không hiệu quả, vừa lợi bất cập hại.

Cái hại đầu tiên của can thiệp giá là cản trở sự hình thành các doanh nghiệp nuôi heo ở quy mô lớn. Để thị trường vận hành được tốt, chúng ta cần những doanh nghiệp chuyên nghiệp, đầu tư bài bản hơn và buôn bán dựa trên hợp đồng thay vì chăn nuôi tự phát, nhỏ lẻ. Nếu Bộ NN&PTNT dùng sức ép để buộc các doanh nghiệp bán với mức giá thấp hơn giá thị trường thì cũng tương đương với việc trừng phạt các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và làm giảm động lực để các hộ chăn nuôi heo nhỏ lẻ thay đổi mô hình sản xuất.

Thứ hai, việc can thiệp giá bằng mệnh lệnh hành chính còn dẫn tới một cái hại lâu dài hơn là vì nó tạo ra thêm thông tin sai lệch trên thị trường và ảnh hưởng tới kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp và hộ kinh doanh kỳ vọng rằng khi kinh doanh gặp khó khăn sẽ được giải cứu và khi lợi nhuận cao sẽ phải điều tiết thì họ sẽ có thái độ chấp nhận rủi ro cao hơn và giảm động lực đổi mới sáng tạo để tăng lợi nhuận.

Trước tình trạng trên, Bộ NN-PTNT đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng trên địa bàn khẩn chương thống kê nhanh quy mô đàn lợn nái hiện có và đầu lợn, sản lượng lợn thịt dự kiến trong từng tháng từ nay đến tháng 2/2019, so sánh với cùng kỳ năm 2017, gửi báo cáo gấp về Cục chăn nuôi trước ngày 2/8/2018 để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Ngoài ra, cần thông tin thường xuyên và đầy đủ về giá cả thị trường cũng như nguồn cung lợn thịt; tuyên truyền để người chăn nuôi và thương lái biết để cùng có trách nhiệm ổn định thị trường, ngành hàng chăn nuôi nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng. Theo đó, không đẩy giá thịt lợn xuất chuồng vượt ngưỡng 50.000 đồng/kg, xuất lợn đúng độ tuổi, đúng khối lượng, không đầu cơ găm hàng chờ tăng giá và tuyệt đối không để các doanh nghiệp chăn nuôi lớn trên địa bàn làm giá.

Tóm lại, giá thịt heo biến động mạnh trong thời gian vừa qua một mặt do những biến động cung cầu, một mặt phản ánh điểm yếu của một nền chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh và quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn, Nhà nước cần tập trung xóa bỏ các rào cản kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp tham gia vào tất cả các khâu trong chuỗi giá trị ngành thịt heo. Các chính sách hỗ trợ nên chú trọng thúc đẩy sự chuyển đổi mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ sang mô hình doanh nghiệp nhằm thích ứng với những thay đổi thị trường và các yêu cầu ngày càng khắt khe từ người tiêu dùng trong nước và quốc tế.