Các chuyên gia của CARE International chia sẻ cách hiểu đúng về Giới trong Phát triển bền vững.

Theo các chuyên gia của CARE International, hiện vẫn có những bài báo viết về Giới nhưng chưa có đóng góp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới, thậm chí còn làm nặng nề hơn những định kiến về giới.

Giới là gì?

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. (luật bình đẳng giới 2006)

Nói cách khác, Giới là nói đến các quan niệm, thái độ, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của nữ giới và nam giới xét trong một bối cảnh xã hội cụ thể.

Từ giới ở đây không dùng để chỉ các tầng lớp, các nhóm người theo nghề nghiệp như “sỹ, nông, công, thương” hay giới nhà văn, giới sinh viên…

Giới tính là gì?

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ (luật bình đẳng giới 2006). Khi nói về giới tính là nói về sự khác biệt về mặt sinh học đề cập đến cấu tạo hoóc môn, nhiễm sắc thể, các bộ phận sinh dục.

Giới tính có liên quan đến quá trình tái sản xuất và duy trì nòi giống như mang thai, sinh con, cho con bú ở nữ giới và sản sinh tinh trùng thực hiện quá trình thụ thai ở nam giới.

Giới khác giới tính thế nào?

Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ, do dạy và học mà có; do mong đợi của xã hội. Giới mang tính đa dạng và có thể thay đổi.

Trong khi đó, giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, giới tính được xác định từ lúc bẩm sinh, mang tính đồng nhất và không thay đổi.

Bình đẳng Giới:

Luật Bình đẳng giới 2006 định nghĩa Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó.

Các khía cạnh bình đẳng giới

+ Bình đẳng về quyền: Cả hai giới đều có quyền như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền tham gia chính trị

+ Bình đẳng về cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội, và được tạo điều kiện để tham gia tốt nhất

+ Bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực cho sự phát triển và ra quyết định

+ Bình đẳng về vai trò, vị thế và giá trị: phụ nữ có địa vị và giá trị bình đẳng với nam giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội

+ Bình đẳng về hưởng lợi: Bình đẳng trong việc hưởng lợi từ thành quả của phát triển

Mục tiêu bình đẳng giới

Xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển KT-XH và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

+ Nam nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

+ Nam nữ không bị phân biệt đối xử

+ Biện pháp thúc đẩy BĐG không bị coi là phân biệt đối xử về giới

+ Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

+ Bảo đảm lồng ghép vấn đề BĐG trong xây dựng và thực thi pháp luật

+ Thực hiện Bình đẳng giới là trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, gia đình, cá nhân

Những NHẦM LẪN về bình đẳng giới

 

  • “Giới là phụ nữ”

“Có giới rồi, đấy ở đây mình thấy có rất nhiều các chị, dự án mình có cán bộ là phụ nữ đấy, hoạt động này cũng có nhiều chị em tham gia rồi đấy”

Phụ nữ được nói đến nhiều, có nhiều hoạt động hướng đến phụ nữ hoặc các chính sách ưu tiên phụ nữ là để lấp khoảng cách hiện có giữa nam giới và phụ nữ.

  • Bình đẳng giới – Cào bằng

“Bình đẳng giới là nam giới và nữ giới như nhau, nam làm gì nữ cũng làm cái đó… ”

Bình đẳng giới là nam giới và nữ giới có vai trò, vị thế như nhau; có cơ hội và hưởng lợi công bằng.

  • Bình đẳng giới – Nữ quyền

Bình đẳng giới chính là nữ quyền

Đây là hai khái niệm khác nhau. Nữ quyền là một phong trào xã hội nhằm khẳng định và đấu tranh cho quyền của phụ nữ trên mọi lĩnh vực. Nghiên cứu tìm ra nguyên nhân của bất bình đẳng và đưa ra các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

  • Bình đẳng giới – Giảm vị thế đàn ông

“Bây giờ bình đẳng rồi, đàn ông chịu thua đi… ”

Bình đẳng giới không tước đoạt mất quyền của ai, không làm giảm quyền lực của ai trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đạt được bình đẳng giới đúng nghĩa tức là  tất cả mọi người đều có quyền lựa chọn và quyết định việc mình làm, được tham gia và hưởng lợi công bằng từ các thành quả của phát triển.

Các Chỉ Số Về Việc Phản Ánh Giới Trong Truyền Thông

  • Sự hiện diện bình đẳng của phụ nữ và nam giới phản ánh các thành phần của xã hội và những kinh nghiệm, hành động, quan điểm và những mối quan tâm, trên tin tức và thời sự.

Tỷ lệ nữ và nam trong tin tức và thời sự

Tỷ lệ nữ và nam được phỏng vấn trực tiếp/hoặc trích dẫn trong tin tức và thời sự để lấy thông tin và /hoặc ý kiến.

Tỷ lệ nữ và nam xuất hiện trong vai trò là 1) Dẫn chương trình; 2) Chuyên gia; 3) Công dân bình thường, tiếng nói của công chúng trong nội dung tin tức và thời sự.

Tỷ lệ định hướng sự quan tâm về các vấn đề xã hội của nam và nữ trên tin tức và thời sự kể cả hình ảnh

Tỷ lệ nữ và nam trong nội dung tin tức và thời sự phân chia theo vị trí xã hội (vd: lãnh đạo, doanh nhân, công nhân, nông dân

Tỷ lệ tin bài tập trung, chủ yếu về phụ nữ và các chủ đề đặc biệt mà phụ nữ quan tâm trong tin tức và thời sự (vd: bạo lực liên quan tới giới, quyền của phụ nữ, thành tựu của phụ nữ v.v…

  • Xóa bỏ các hình thức khuôn mẫu, tăng cường sự hiện diện và thông tin đa chiều để đạt được sự bình đẳng trong phản ánh về nữ giới và nam giới.

Tỷ lệ tin bài theo khuôn mẫu giới (diễn giải công khai phân biệt theo giới các đặc điểm và vai trò của phụ nữ và nam giới trong xã hội).

Tỷ lệ tin bài theo khuôn mẫu giới (mô tả những đặc điểm truyền thống “nữ tính”/“nam tính” và vai trò của nam/nữ, vì thế làm cho những đặc điểm này trở nên bình thường trong khi lại bỏ qua những đặc tính khác và những chức năng khác của nam giới và nữ giới trong xã hội).

Tỷ lệ nữ và nam bị mô tả là nạn nhân (vd: của tội ác, bạo lực, xung đột, thảm họa, nghèo đói, v.v…).

Tỷ lệ nữ và nam được mô tả là người sống sót

Tỷ lệ tin bài có sự hiện diện, phản ảnh nam và nữ trên các lĩnh vực (ám chỉ những cố gắng loại bỏ cách thức khuôn mẫu về giới).

Tỷ lệ tin bài sử dụng ngôn ngữ phân biệt giới tính của các phóng viên không tính trường hợp trích nguồn

  • Đưa tin bài về bình đẳng và công bằng giới như một bộ phận quan trọng cấu thành vai trò là người giám sát xã hội của truyền thông.

Tỷ lệ phần trăm tin bài về các chủ đề về bình đẳng, bất bình đẳng giới (tin bài về các trường hợp đặc biệt về bình đẳng hoặc bất bình đẳng giữa nam và nữ, các chính sách phù hợp, các vấn đề pháp lý, chương trình được thiết lập để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền của phụ nữ và bình đẳng giới).

Tỷ lệ tin bài nêu bật khía cạnh bình đẳng, bất bình đẳng giới của các sự kiện và các vấn đề (kể cả chính trị, kinh tế, chiến tranh và xung đột, tội ác, bạo lực, nghèo đói, khoa học và công nghệ, thể thao, v.v…).

Tỷ lệ thời lượng, không gian, vị trí (thời gian vàng hoặc cao điểm, trang nhất hoặc chuyên đề) dành cho tin bài nêu bật các vấn đề liên quan tới giới hoặc nêu rõ khía cạnh giới của các sự kiện hoặc vấn đề so với các tin bài khác.

  • Sự hiểu biết chính xác và tổng thể về bạo lực trên cơ sở giới ở mọi hình thức là sự vi phạm nhân quyền đã được quốc tế công nhận (tham khảo Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức bạo lực với phụ nữ, 1993).

Không đổ lỗi cho nạn nhân trong trường hợp đó.

Xác định những người bị ảnh hưởng bởi bạo lực trên cơ sở giới là những nguồn tin do đó khi đưa tin phải có sự đồng ý của họ.

Không xâm phạm quyền riêng tư, xúc phạm nhân phẩm của người bị bạo hành về giới và tình dục.

Sử dụng các thông tin và con số thống kê để phản ánh bạo lực giới là một vấn đề xã hội hơn là một bi kịch của cá nhân.

Đưa các thông tin về các đầu mối liên hệ tại địa phương cho các tổ chức và dịch vụ hỗ trợ những người bị tác động bởi bạo lực giới.