Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2018, kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, nợ công ước đạt 61,4% GDP.

Nợ công năm 2018 dự kiến khoảng 61,4% GDP. 

Năm 2018, nợ công Việt Nam giảm 2,3% so với năm 2017

Trong một báo cáo tại Hội nghị giao ban trực tuyến sáng 24/9,  ông Trần Quốc Phương – Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) công bố,  tăng trưởng kinh tế đang diễn ra theo xu hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng được cải thiện và dịch chuyển dần sang chiều sâu. Năm 2018, tăng trưởng GDP ước đạt 6,7%, lạm phát kiềm chế ở mức dưới 4%. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm và cải thiện tích cực so với năm 2017, góp phần củng cố nền tảng vĩ mô, tạo nguồn lực cho phát triển. Đáng lưu ý, nợ công đã giảm từ mức 63,7% GDP năm 2016 xuống còn 61,4% GDP năm 2018. Thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 1,35 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 3% so dự toán và tăng 5,5% so cùng kỳ năm 2017.

Tuy nhiên, theo Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân, kinh tế năm 2018 vẫn bộc lộ những hạn chế trong quá trình thực hiện 3 đột phá chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020; cơ cấu lại kinh tế chưa triệt để, tiến độ thực hiện chậm. “Mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào vốn thay vì đổi mới công nghệ. Xuất nhập khẩu dễ chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài”, ông Phương nhận xét.

Bên cạnh đó, tội phạm về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả, chống người thi hành công vụ… vẫn diễn ra phức tạp.

Nợ công cao sẽ tác động từng người dân

Bàn về vấn đề ảnh hưởng của nợ công đến nền kinh tế, TS Lê Đăng Doanh (nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương) từng nhận định trên báo Tiền Phong, nợ công cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới từng người dân. Vì để có tiền trả nợ, nhà nước phải: Tăng thuế để tăng nguồn thu; Cắt giảm các khoản đầu tư cho phúc lợi xã hội, như giảm trợ cấp cho giáo dục, y tế, khiến người dân phải trực tiếp trả những khoản này cao hơn; Giảm đầu tư công khiến tăng trưởng chậm lại. Từ đó, dẫn tới kinh tế vĩ mô bất ổn, doanh nghiệp khó khăn thất nghiệp và bất bình đẳng xã hội gia tăng…

Người dân sẽ sớm cảm nhận được tác động của nợ công tăng cao hiện nay. Ảnh minh họa

Ngoài ra, theo ông Doanh, dù không tính nợ của doanh nghiệp nhà nước là nợ công, nhưng khi doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, nhà nước vẫn phải đứng ra gánh thay. Thực tế, nhà nước đã phải trả nợ thay Vinashin, hay việc mua lại các ngân hàng 0 đồng và phát hành trái phiếu để duy trì hoạt động ngân hàng…

Trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam luôn đối mặt với tình trạng có khả năng mất kiểm soát nợ công và không cắt giảm được nợ công bền vững, chủ yếu xuất phát từ những thách thức mang tính hệ thống trong việc cấu trúc nợ công, chi tiêu công, trả nợ công. Một số giải pháp được kiến nghị cho giai đoạn 2016-2020, bao gồm các giải pháp về hoàn thiện thể chế, kiểm soát một số nguồn nợ công có rủi ro cao và đảm bảo khả năng trả nợ.

Giải pháp nào cho vấn đề giảm nợ công?

Xung quanh vấn đề này, trên báo Người Lao động từng nêu ra giải pháp giảm nợ công từ PGS-TS Trần Kim Chung – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế T.Ư, Bộ KHĐT. Theo đó, trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam luôn đối mặt với tình trạng có khả năng mất kiểm soát nợ công và không cắt giảm được nợ công bền vững, chủ yếu xuất phát từ những thách thức mang tính hệ thống trong việc cấu trúc nợ công, chi tiêu công, trả nợ công. Một số giải pháp được kiến nghị cho giai đoạn 2016-2020, bao gồm các giải pháp về hoàn thiện thể chế, kiểm soát một số nguồn nợ công có rủi ro cao và đảm bảo khả năng trả nợ.

PGS-TS Trần Kim Chung – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế T.Ư, Bộ KHĐT. Ảnh: Lao động

Cụ thể, các giải pháp được đưa ra trong bài viết PGS-TS Trần Kim Chung, Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý nợ công và đặc biệt là Luật Quản lý nợ công để đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản.

Trong đó cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Luật Quản lý nợ công về trả nợ Chính phủ (Điều 30) và trả nợ của chính quyền địa phương (Điều 42) cho phù hợp; bổ sung thẩm quyền của các cơ quan nêu trên liên quan đến kế hoạch chi trả nợ trong kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm tại Luật Quản lý nợ công cho phù hợp với Luật Ngân sách Nhà nước; cần có quy định về chỉ tiêu thống kê, thực hiện thống kê tại Luật Quản lý nợ công để có cơ sở báo cáo thông tin thống kê về nợ công phù hợp, đồng bộ chung với pháp luật về thống kê; Luật Quản lý nợ công cần có các quy định về thẩm quyền để thống nhất với Luật Đầu tư công; sửa đổi Luật Quản lý nợ công theo hướng có quy định về kiểm toán nợ công phù hợp với Luật Kiểm toán Nhà nước 2015.

Thứ hai, tổng kết, sửa đổi, bổ sung Chiến lược quản lý nợ công, đặc biệt là giai đoạn 2016-2020 theo hướng phù hợp với thực tế nợ công hiện nay. Việc tiếp tục duy trì nợ công trong hạn mức cần được theo dõi, đánh giá, tổng kết và những cảnh báo. Vì vậy, việc cập nhật Chiến lược quản lý nợ để có những chỉ báo định hướng là rất cần thiết trong thời điểm đầu giai đoạn hiện nay.

Thứ ba, kiểm soát việc tăng vốn vay: Chỉ chi tiêu nếu đã có nguồn thực; gắn trách nhiệm vay – trả nợ trực tiếp với người ra quyết định đầu tư và tiêu dùng; không phát sinh nợ vay nếu không có phương án trả nợ khả thi; không vay cho tiêu dùng.

Thứ tư, tăng cường trả nợ, cơ cấu lại vốn vay, không để tình trạng quá hạn trả nợ: Tăng cường kiểm soát các khoản vay về cho vay lại; hạn chế tối đa các khoản vay từ nước ngoài, thay bằng vay trong nước; tập trung các nguồn để trả nợ, nhất là nợ nước ngoài đến hạn; kiểm soát việc bảo lãnh tín dụng cho DNNN; tập trung trả nợ đọng xây dựng cơ bản.

Thứ năm, giảm chi hiệu quả: Giảm chi thường xuyên thông qua việc cơ cấu lại bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi các hoạt động khánh tiết; giảm thiểu khởi công các công trình đầu tư có tính chất tiêu dùng; giảm chi bù lỗ DNNN; nâng cao hiệu quả đầu tư công để giảm tổng mức đầu tư, nâng cao đóng góp của đầu tư công vào tăng trưởng kinh tế, góp phần giảm bội chi.

Thứ sáu, tăng thu ngân sách bền vững: Rà soát, xem xét, đánh giá, đổi mới hệ thống thu ngân sách hiện hành; cải thiện môi trường kinh doanh, đăng ký kinh doanh nhằm chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức do khu vực này có quy mô kinh tế lớn, trong khi chỉ chịu mức thuế thấp; tăng thu từ đất đai thông qua tăng thu từ thuế đất và nhà ở; tăng cường hiệu năng của bộ máy thu thuế, thu ngân sách, tránh, giảm thất thoát.

Thứ bảy, đa dạng hóa nguồn nợ nước ngoài: Không quy nợ nước ngoài về một đồng ngoại tệ; theo sát diễn biến thị trường ngoại hối để có phản ứng thích hợp đối với nợ nước ngoài; từng bước thay thế nợ nước ngoài bằng nợ trong nước.

Mai Nguyên (T/h)