“Sống ở quê, nhiều khi có muốn đi du lịch cũng khó vì mình không có tiền, cũng không có thông tin. Quanh năm chỉ quanh quẩn ở quê nhà, thêm vào đó, có đau ốm mình cũng chẳng dám khám nhiều vì không có bảo hiểm y tế, muốn đi khám nhưng không có tiền”, chi Na tâm sự.

Phụ nữ nông thôn chịu nhiều thiệt thòi

Đang tất bật lo cho con tới trường, lại phải chạy vạy xin mạ cấy dặm mấy sào ruộng bị chết, nhưng chị Nguyễn Thị Na (ở Hoằng Đồng, Hoằng Hoá, Thanh Hoá) vẫn chăm nom cửa hàng làm tóc tại nhà. Chị Na cho biết, chồng chị mất sớm, chị một mình nuôi con, lúc trước đi làm công nhân giày da ở Khu công nghiệp Hoằng Long, thế nhưng công việc không đều, lương thấp nên chị nghỉ việc.

“Mình thất nghiệp 5 tháng thì đi học làm tóc. Vừa học nghề vừa làm ruộng lấy gạo nuôi con ăn học, nhiều lúc cực quá, tiền không có, vay nợ còn không được. Chị em ở quê như mình có muốn học nghề cũng khó khăn vì không tiếp cận được chương trình dạy nghề miễn phí” – chị Lan nói.

Cũng may chị Lan được người quen giới thiệu cho đi học nghề làm tóc. Sau 5 tháng học nghề, giờ thì chị đã tự làm nghề, mở quán cắt tóc gội đầu tại nhà, thu nhập cũng đủ sinh hoạt và nuôi con ăn học. Mặc dù vậy, nhưng giờ muốn mở rộng kinh doanh, đầu tư thêm máy móc thì không thể vay được vốn ngân hàng vì khả năng tiếp cận nguồn vốn vay khó.

Không chỉ khó khăn trong lĩnh vực phát triển kinh tế, những phụ nữ như chị Na còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thể chất và tinh thần.

“Sống ở quê, nhiều khi có muốn đi du lịch cũng khó vì mình không có tiền, cũng không có thông tin. Quanh năm chỉ quanh quẩn ở quê nhà, thêm vào đó, có đau ốm mình cũng chẳng dám khám nhiều vì không có bảo hiểm y tế, muốn đi khám nhưng không có tiền. Chị em làm nông nghiệp chúng mình kể cả có đẻ con cũng tự chăm sóc, đẻ xong vài tuần thì đi làm, đâu được nghỉ thai sản, được hưởng lương, quyền lợi gì đâu” – chị Na tâm sự.

Khó khăn của chị Na cũng là khó khăn chung của phụ nữ nông thôn ở nhiều địa phương trong cả nước.

Trước đó, một nghiên cứu của Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐTBXH) trong năm 2017 cũng đã cho thấy, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam làm việc ở lĩnh vực lao động phi chính thức khá cao, chiếm tới hơn 60% tổng số lao động nữ. Phần đông trong số họ làm việc trong gia đình, nhận công việc giản đơn, hơn 43% lao động nữ làm công việc nông nghiệp. Chính vì vậy thu nhập của họ thấp, môi trường lao động cũng không được đảm bảo.

Ông Đào Quang Vinh – Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội – cho rằng: “Lao động nữ đang chịu khá nhiều thiệt thòi, bởi cùng lúc họ phải đảm nhận nhiều trọng trách: Vừa sinh con, nuôi dưỡng con, vừa làm kinh tế, thu vén nội trợ. Thêm vào đó, quá trình làm việc cũng gặp nhiều khó khăn hơn do bị coi thường, đánh giá thấp. Mức lương cơ bản của phụ nữ làm công việc tự do bao giờ cũng thấp hơn so với nam giới”.

Còn Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc Dung thì thừa nhận thực tế “làm nhiều nhất cũng là phụ nữ, hưởng thụ ít nhất cũng là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn”.

Nhiều giải pháp “tăng lực” cho phụ nữ

Mới đây, để hỗ trợ phụ nữ nâng cao quyền năng giúp họ tiếp cận được các quyền cơ bản, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 đã đề ra mục tiêu đưa 100% tỷ lệ nữ ở vùng nông thôn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn ưu đãi từ chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính thức. Theo đó, chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Nhà nước đặc biệt quan tâm.

Trước đó, tháng 3.2017, Việt Nam cũng đã thực hiện chương trình “Sáng kiến thập kỷ nông nghiệp hộ gia đình” nhằm hỗ trợ phụ nữ nông thôn tiếp cận với chương trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nguồn vốn chính thức và phi chính thức thông qua các dự án đầu tư tổ chức nước ngoài. Từ đó, tạo việc làm, tăng thu nhập giúp xoá đói giảm nghèo cho phụ nữ nông thôn.

Ngoài vấn đề tăng cường năng lực về phát triển kinh tế, vốn vay, quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, an sinh – xã hội, gần đây cơ quan quản lý còn hỗ trợ giúp phụ nữ nông thôn tăng cường tiếp cận đất đai.

TS Khuất Thu Hồng – Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) cho biết, dù luật đã quy định phải ghi cả tên vợ và chồng vào sổ đỏ, tuy nhiên, hiện phần lớn sổ đỏ đất đai, nhà cửa mới được ghi tên chồng (chiếm hơn 70%), chỉ có 22-26% phụ nữ được đứng tên đăng ký trong sổ đỏ.

TS Hồng cho rằng: “Việc tăng cường tiếp cận quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai cho phụ nữ không chỉ giúp cho họ “phòng thân”, mà ngay khi gia đình ấm êm thì việc phụ nữ không đứng tên trong sổ đỏ nhà ở, đất đai khiến họ cũng không có quyền quyết định trong việc xây dựng hay mua nhà. Họ càng không có quyền đề xuất thế chấp sổ vay ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Như vậy, tất cả quyền năng khác của họ đều bị hạn chế”.

“Đất đai, nhà cửa đảm bảo sinh kế và nơi ăn chốn ở cho con người, vì vậy ở thời đại nào đó vẫn là tài sản quan trọng nhất của mỗi cá nhân. Quyền bình đẳng về tài sản là nền tảng căn bản của bình đẳng giới. Khi người phụ nữ có tài sản thì họ sẽ tự tin hơn, chủ động hơn trong việc bảo vệ các quyền chính đáng khác của mình cả trong gia đình và xã hội”, TS Hồng nói tiếp.

Theo Dân Việt