Kết quả khảo sát cho biết 56,5% gia đình chi em nữ nhập cư không có tiền tiết kiệm đề phòng lúc gặp khó khăn và tránh rủi ro. Trong những người có tiết kiệm, số tiền cũng không nhiều, mức dưới 1 triệu đồng/tháng, chiếm 78,1%.

Lao động nữ đang làm việc tại các khu công nghiệp là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ công nhân lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, họ đã và đang đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những bất cập trong vấn đề tiền lương, thu nhập, đời sống văn hóa tinh thần, điều kiện chăm sóc con, sức khỏe sinh sản…

Tiền lương, thu nhập của lao động nữ nhập cư không đủ trang trải cho các chi phí tối thiểu cần thiết.  Cụ thể, LĐN nhập cư có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ: 31,3%; từ 3,1-4 triệu đồng/ tháng chiếm tỷ lệ 39,7%, và từ 4,1-5 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 28,6%; tỷ lệ có thu nhập trên 5 triệu đồng tháng chỉ chiếm khoảng 2%. Do đó cuộc sống của họ càng trở nên khó khăn và bấp bênh hơn. Kết quả là 88,8% LĐN nhập cư phải làm thêm giờ để tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống.

 

Tiền lương, thu nhập của lao động nữ nhập cư không đủ trang trải cho các chi phí tối thiểu cần thiết. Ảnh minh hoạ.  

Đánh giá về thu nhập của mình, LĐN nhập cư cho biết: có 22,8% cho rằng thu nhập đủ trang trải cho cuộc sống; 39,2% cho rằng phải chi tiêu tằn tiện và tiết kiệm mới đủ sống; 36,4% cho rằng thu nhập không đủ trang trải cho cuộc sống; chí có 1,7% chị em cho biết thu nhập có tích lũy.

Chị Luyến, ở Xuân Trường (Nam Định) cho biết: “Ruộng có ít thôi, có nhiều đâu mà làm, trong năm nắng ấm, các chị tranh thủ về cấy hai ngày là xong hết rồi, mai kia đến vụ gặt lại về gặt nhoáng là xong”. “Vậy sao chị không ở nhà để chồng chị đi làm xa có hơn không?”. “Chị cũng cho chồng chị đi làm rồi, nhưng các ông ấy không chịu đựng và ăn uống kham khổ được như mình đâu em ạ”. “Ở quê chị có nghề dệt chiếu cơ mà, lúc nông nhàn, chị làm thêm, đỡ phải đi xa?”. “Ăn thua gì đâu em, ế ẩm lắm, nghề đó giờ mai một rồi. Hàng Tàu tràn lan, hàng nội bị lép vế. Bọn chị cũng muốn làm ở gần nhà, ai muốn đi xa làm gì, không đâu bằng nhà mình, em ơi. Như quê nhà chị Loan có nghề thêu ren, nhưng thuê thuê cả buổi cũng chỉ được vài nghìn bạc…”.

Chị Trần Thị Thảo, 29 tuổi, quê Yên Thành đang bồng con nhỏ. Chị Thảo cho biết trước đây chị đã từng làm công nhân Công ty Matrix Việt Nam 3 năm, nhưng chị đã phải nghỉ làm 1 năm nay vì sinh con nhỏ. “Làm công nhân thu nhập cao nhất cũng 2,7 triệu đồng/tháng, Công ty không có nhà trẻ, không hỗ trợ tiền gửi trẻ, ông bà hai bên nội ngoại cũng không giúp được nên em đành phải nghỉ trông con, vì nếu có đi làm thì lương cũng không đủ thuê osin”.

Lao động nữ nhập cư có cuộc sống bấp bênh, không có tiết kiệm phòng tránh rủi ro: Với thu nhập thấp, không đủ để trang trải cho các chi phí cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày, trong khi đa phần LĐ nhập cư phải thuê nhà trọ để ở, đời sống của NLĐ đặc biệt là LĐN nhập cư ở trong tình trạng bấp bênh, thiếu ổn định. Kết quả khảo sát cho biết 56,5% gia đình chi em nữ nhập cư không có tiền tiết kiệm đề phòng lúc gặp khó khăn và tránh rủi ro. Trong những người có tiết kiệm, số tiền cũng không nhiều, mức dưới 1 triệu đồng/tháng, chiếm 78,1%.

Điều kiện nhà ở và các đồ dùng thiết yếu: nhà trọ của LĐN tại các khu dân cư gần các  KCN, KCX diện tích trung bình 10 -15 m2 cho 3 – 4 người. Có 23,0% không khép kín, các công trình vệ sinh, nhà tắm dùng chung; có 35,7% có chỗ nấu ăn nhưng không có nhà vệ sinh; còn lại là nhà trọ khép kín, nhưng phòng vệ sinh chật chội, và thiếu ánh sáng. LĐN nhập cư KCN gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như ăn, ở, đi lại, quan hệ cộng đồng.

Nhà trọ của lao động nữ tại các  KCN, KCX diện tích trung bình 10 -15 m2 cho 3 – 4 người. Ảnh minh hoạ

Trong những năm qua Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn đã có nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch, hoạt động đối với lao động nữ, lao động nữ khu công nghiệp như:

Nghị quyết số 03a/NQ-TLĐ ngày 17/02/2014 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc tuyên truyền thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam khoá XI về nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động khu công nghiệp, khu chế xuất.

Nghị quyết 6b/TLĐ ngày 29/01/2011 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn “Về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” và Chỉ thị 03/CT-TLĐ ngày 18/8/2010 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ công nhân viên chức lao động.

Bên cạnh đó, công đoàn các cấp thường xuyên tìm hiểu, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, vướng mắc khó khăn của LĐN nói chung và LĐN nói riêng trong các KCN-KCX để có những giải pháp phối hợp tháo gỡ giải quyết kịp thời.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với tư cách là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng lương Quốc gia, tham gia đóng góp trong quá trình tham mưu xây dựng chế độ tiền lương cho người lao động. Với các kiến nghị cụ thể như đề nghị Chính phủ nghiên cứu thực hiện lộ trình điều chỉnh tiền lương tối thiểu để đảm bảo nhu cầu tối thiểu của người lao động theo kết luận số 23/KL-TW ngày 29/5/2012 của Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và theo Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2012.