Số liệu thống kê cho thấy, phụ nữ làm công hưởng lương thấp hơn nam giới, trung bình là 4,58 triệu đồng so với 5,19 triệu đồng của lao động nam. Bất bình đẳng như vậy nhưng phụ nữ luôn lo lắng trước nguy cơ bị mất việc.

 

Trong khi các khu công nghiệp, khu đô thị phát triển và sự năng động của các thành phần kinh tế đã tạo ra được nhiều công ăn việc làm thì ở đó nguồn nhân lực lại bị thiếu hụt, không đủ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp và các ngành dịch vụ của thành phố. Nông thôn sẽ là nguồn cung cấp chính về lao động cho sự thiếu hụt ấy thông qua các dòng di dân của phụ nữ từ nông thôn ra thành thị.

Vùng kinh tế trọng điểm ở Bắc Bộ gồm các thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh là nơi thu hút đông đảo dòng người di cư từ nông thôn ra thành phố. Hai thành phố là Đà Nẵng và Cần Thơ cũng thu hút khá nhiều người nhập cư hơn các thành phố còn lại.

Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho chúng ta hình dung phần nào bức tranh chung về tình hình di dân từ nông thôn ra thành thị ở nước ta trong khoảng thời gian  từ năm 1999 – 2009 là Vùng đồng bằng sông Hồng tăng từ 11 người lên 16 người nhập cư/1000 dân sở tại.

 Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi có nhiều dự án kinh tế, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và các công ty được đầu tư bởi các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư trong nước. Số phụ nữ di cư từ nông thôn ra Hà Nội làm các nghề tự do như giúp việc gia đình, bán hàng rong, thu mua phế liệu, làm thuê trong các nhà hàng, cửa hiệu,… cũng là một lực lượng đông đảo. Năm 1999, tỉ lệ nhập cư vào thủ đô là 21,2%, năm 2004 là 29,6% và năm 2005 là 35,6%, tình trạng này vẫn đang tiếp tục gia tăng.

Phần lớn công nhân tại các khu công nghiệp đều là phụ nữ nông thôn. Nhưng điều mà họ lo lắng là mình luôn đứng trước nguy cơ bị mất việc bất cứ lúc nào.

 

85% công nhân nữ tại các khu công nghiệp bị mất việc. Ảnh minh họa

Theo nghiên cứu của Viện Công nhân và Công đoàn (thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) cho thấy, có đến 85% lao động nữ tại các khu công nghiệp có nguy cơ mất việc làm, gây khó khăn cho quá trình bình đẳng giới.

Ông Huỳnh Bảo Quang, Tổng giám đốc Ngân hàng Maritime Bank khẳng định, bình đẳng giới tại Maritime Bank diễn ra rất tự nhiên, và dường như trong tư tưởng, văn hóa làm việc của cán bộ, nhân viên Maritime Bank gần không có sự phân biệt về giới.

“Chúng tôi có 4 nguyên lý cơ bản. Thứ nhất, quy luật công bằng trong cuộc sống, những nơi có sự công bằng thì có sự sinh sôi, phát triển tốt. Thứ hai là nguyên lý về quản trị, trọng nhân tài. Nếu một tổ chức trọng nhân tài thì sẽ có cơ hội thành công lớn hơn. 

Thứ ba là bình đẳng giới, có nghĩa là không tạo điều kiện ưu ái hơn cho giới này giới khác, bình đẳng giới là tạo điều kiện, môi trường công bằng để tất cả lao động cùng phát triển. Cuối cùng, cuộc cách mạng 4.0 thúc đẩy sự tích cực từ đội ngũ cán bộ, đặc biệt là sự ân cần, ấm áp quan tâm của cán bộ nhân viên với khách hàng mà đây là thế mạnh của phụ nữ”, ông Quang nói.

Đồng quan điểm với ông Quang, bà Cao Thị Ngọc Dung, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) cũng cho biết, doanh nghiệp của bà gần như không có sự phân biệt giữa nam và nữ.

Đặc biệt, với mô hình doanh nghiệp thiên về sản xuất như PNJ, bà Dung cho rằng ưu thế của nữ lao động là khéo tay, nên PNJ ngày càng đào tạo nhiều cho công nhân nữ để họ tạo ra những sản phẩm tốt hơn.

“Ngược lại ở khu vực bán hàng, nam giới lại có lợi thế hơn, cho nên công việc phù hợp với cá nhân nào thì bố trí, chứ chúng tôi không có biên giới giữa nam và nữ trong hoạt động kinh doanh”, bà Dung nói.

Trong khi đó, một nghiên cứu của Viện Công nhân và Công đoàn (thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) cho thấy, có đến 85% lao động nữ tại các khu công nghiệp có nguy cơ mất việc làm, đây chính là rào cản bình đẳng giới.

Tại buổi tọa đàm, Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐTBXH) công bố một nghiên cứu nhỏ cho thấy, hầu hết lao động nữ làm việc trong những lĩnh vực có chuyên môn không cao. Cụ thể như công nhân da giày, dệt may, dịch vụ (chiếm hơn 70% tổng lao động trong các ngành này). Tỷ lệ lao động nữ khu vực phi chính thức khá cao, 62,4% lao động nữ làm việc trong gia đình không hưởng lương và tự làm; 41,1% lao động nữ làm những công việc giản đơn; hơn 43% lao động nữ làm công việc nông nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp ở lao động nữ cũng thấp hơn so với nam giới.

Số liệu thống kê cũng cho thấy, phụ nữ làm công hưởng lương thấp hơn nam giới, trung bình là 4,58 triệu đồng so với 5,19 triệu đồng của lao động nam. Bất bình đẳng như vậy nhưng phụ nữ luôn lo lắng trước nguy cơ bị mất việc.

Chia sẻ với phóng viên bên lề tọa đàm, chị Đỗ Thị Lan (Hoài Đức, Hà Nội) cho biết, chị mới được nhận vào làm tại một xưởng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ ở xã bên. Ngày làm 10 tiếng, tuần làm 6 ngày mà thu nhập không cao, chỉ hơn 3 triệu đồng/tháng. Tháng nào bị trừ tiền đi muộn, sản phẩm lỗi thì tiền lương chẳng còn được bao nhiêu.

“Công việc ở xưởng suốt ngày tiếp xúc với máy pha chế nứa, bụi bặm, về nhà lại chăm sóc con, cơm nước, làm đủ thứ việc nhà. Đấy là chưa kể  suốt ngày lo làm sai, làm hỏng sản phẩm bị phạt, trừ tiền lương. Nhiều lúc thấy rất mệt mỏi” – chị Lan than thở.

Phát biểu tại tọa đàm, ông Đào Ngọc Dung – Bộ trưởng Bộ LĐTBXH thừa nhận thực tế: “Làm nhiều nhất cũng là phụ nữ, hưởng thụ ít nhất cũng là phụ nữ”. Ông Dung cho biết, tại nhiều nơi vẫn còn tình trạng coi thường và đánh giá thấp phụ nữ. Do vậy, thời gian tới, Bộ LĐTBXH sẽ ưu tiên thực hiện các giải pháp tạo việc làm mới, phù hợp trong bối cảnh kinh tế mới giúp lao động nữ nâng cao thu nhập, nâng cao vị thế.