Để kiếm thêm tiền nuôi 3 con khi chồng đi làm xa, chị Hạnh nhận lời đi phun thuốc BVTV thuê cho nhiều hộ trong vùng. “Vì độc hại quá nên họ không dám làm. Còn mình vì miếng ăn của con, biết chết vẫn cứ phải liều” – chị Hạnh tâm sự.

Khi đàn ông đi làm xa, phụ nữ đảm nhiệm mọi việc nhà nông nặng nhọc, tiếp xúc trực tiếp với thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) độc hại nên chịu gánh nặng về bệnh tật, đặc biệt là sức khỏe sinh sản.

Chồng lên Hà Nội làm thợ xây, một năm chỉ đảo qua nhà năm ba bận nên mọi việc đồng áng, chị Phạm Minh Hậu (xã Hải Vân, Hải Hậu, Nam Định) phải cáng đáng hết. “Nhà tôi có 10 sào ruộng. Những lúc cấy gặt tôi thường phải thuê thêm người. Còn phun thuốc BVTV thì phải tự mình làm. Tuy rằng có đeo khẩu trang, găng tay, đi ủng nhưng hôm nào đi phun thuốc về tôi cũng bị xây xẩm mặt mày, nôn và rối loạn tiêu hóa” – chị Hậu cho biết.

Tuy rằng có đeo khẩu trang, găng tay, đi ủng nhưng hôm nào đi phun thuốc về chị cũng bị xây xẩm mặt mày, nôn và rối loạn tiêu hóa. Ảnh minh hoạ

Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình, môi trường trong phát triển (CGFED), mỗi năm toàn xã Hải Vân sử dụng gần 1.200kg thuốc trừ sâu, 80% do phụ nữ phun, thậm chí có cả những phụ nữ chuyên đi phun thuốc sâu thuê. 66,7% chị em bị chóng mặt, 74,2% bị đau đầu, 84,6% bị mờ mắt, 87,5% bị vã mồ hôi, 79% bị choáng, 63,6% buồn nôn, hơn 87% mất ngủ, hơn 66% khó thở… Cho dù độc hại nhưng chỉ có hơn 70% chị em có bảo hộ như khẩu trang, găng, ủng…

Cùng ở xã Hải Vân, có chị Hạnh mới ở xa chuyển đến, không được phân ruộng. Để kiếm thêm tiền nuôi 3 con khi chồng đi làm xa, chị Hạnh nhận lời đi phun thuốc BVTV thuê cho nhiều hộ trong vùng. “Vì độc hại quá nên họ không dám làm. Còn mình vì miếng ăn của con, biết chết vẫn cứ phải liều” – chị Hạnh tâm sự. Chị Hạnh gầy yếu, suy nhược, thường xuyên đau đầu, chóng mặt nhưng chị cũng không có điều kiện đi khám bệnh, chẳng rõ mình làm sao.

Một nghiên cứu khác tại vùng trồng chè xã Bắc Sơn (Phổ Yên, Thái Nguyên) của CGFED cho thấy: Người dân ít sử dụng bảo hộ lao động, chủ yếu là dùng khẩu trang. Người phun thường mặc áo mưa (80%), đeo khẩu trang (80%), đi ủng (50%), đeo kính (rất ít). Đặc biệt, liều lượng pha thuốc sâu thường cao hơn 30 – 50% so với hướng dẫn trên bao bì, vì người dân cho rằng “phải liều lượng cao thì sâu mới chết”…

Hiện nay, nhiều địa phương xảy ra tình trạng “già hóa nông thôn, phụ nữ hóa nông dân” do đàn ông di cư tìm việc làm. Điều này càng đặt gánh nặng về lao động và rủi ro bệnh tật lên vai phụ nữ và trẻ em.

Thuốc BVTV không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ mà còn để lại nhiều hậu quả cho thế hệ sau. Theo nghiên cứu của Mạng lưới hành động về thuốc BVTV châu Á – Thái Bình Dương (PAN-AP), thuốc BVTV có độc tính có khả năng gây ung thư, biến đổi gen, nhiễm độc cơ quan sinh sản, nhiễm độc hệ miễn dịch, phá vỡ tuyến nội tiết, ảnh hưởng tới hệ thần kinh và quá trình phát triển. Nếu bị phơi nhiễm thuốc BTVT, phụ nữ bị gặp nhiều các vấn đề về sức khỏe sinh sản như sảy thai, thai chết lưu, lạc nội mạc tử cung hoặc sinh con dị tật. Ảnh minh hoạ

Nhiều loại thuốc BVTV có thể gây tác động đến nhau thai và phôi thai, khiến cho não, nội tiết, cơ quan sinh sản và hệ thống miễn dịch của thai nhi bị phá vỡ, gây dị tật, vô sinh… Đối với những phụ nữ đang cho con bú, độc tố từ thuốc BVTV có thể ngấm cả vào sữa mẹ. Còn các trẻ vị thành niên đang tuổi lớn, nếu nhiễm độc thuốc BVTV có thể chậm phát triển, ốm yếu cả về thể chất lẫn tinh thần.

Bà Phạm Kim Ngọc – Giám đốc CGFED cho biết: hơn 90% người dân biết về sự độc hại của thuốc BVTV, nhưng họ không có lựa chọn nào khác. Các thuốc trừ sâu thảo mộc, hữu cơ của Việt Nam có giá thành quá đắt, lại ít tuyên truyền cho người dân. Vì thế, đa số nông dân đều mua thuốc BVTV của Trung Quốc (cho rẻ), chỉ nghe hướng dẫn qua loa của người bán hàng nên việc pha chế, sử dụng rất tùy tiện. Họ càng không được cảnh báo về sự độc hại, nguy hiểm của thuốc BVTV nên vẫn cứ làm liều. Nếu họ biết chất độc có thể ảnh hưởng tính mạng, đến cả con cháu họ, có thể người dân sẽ cẩn trọng hơn”.